Menu

Hầu rượu nhà văn Nguyễn Quang Sáng

06:30 18/02/2018

pno
Nguyễn quang Sáng kể, ông chèo xuồng giỏi lắm. Xưa chèo suốt đêm từ Cà Mau xuống Chắc Băng, nay tàu chạy mấy tiếng đồng hồ. Hôm rồi làm phim, ông chèo ào ào trên sông Hậu.

Tôi tìm nhà Nguyễn Quang Sáng mới dọn sang quận 7 để hóng chuyện ông đang viết kịch bản cho phim nhiều tập về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Đang lơ ngơ dò số nhà thì Lưu Trọng Văn đi qua bảo: “Sắp tới rồi đấy, chắc đang lượn xe đạp. Bên này đường rộng, ông ấy thể dục”. 

Cũng may, khi tìm vào nhà, Nguyễn Quang Sáng đã chờ sẵn ở cái bàn tiếp khách kê ngoài hàng hiên nối với  sân nhỏ gần cổng. Một tay cắp chai rượu với cái chén (“đồ nghề” của ông), tay kia cầm chiếc ấm trà nhỏ:

- Tôi chán cô, không biết uống rượu thì uống trà vậy.

Hau ruou nha van Nguyen Quang Sang
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Bạn ông, toàn cỡ rượu và tài như Trịnh Công Sơn, Nguyễn Tuân, Thu Bồn… Ông viết đâu đó: “Cái nhóm chúng tôi như một chùm lá trên cành, mấy năm gần đây lác đác từng chiếc rơi… Đường Sài Gòn xe cộ cuồn cuộn, mà tôi thấy thưa vắng quá”. Nay rút sang tận quận 7 vắng vẻ, xa bạn, chắc buồn lắm?

Thấy tôi lăm lăm bút sổ, ông Sáng cười: “Đặt tên cho cô - nhà văn kim chỉ - được không? Anh có đọc cuốn cô viết về ông Hoàng Đạo”. 

- Ý anh nói em viết toàn ký sự nhân vật, chăm chỉ ghi chép thôi, không có tài chứ gì? Người không uống rượu, chắc là nhạt lắm, viết lách gì…

- Bậy. Uống nước đi.

Vậy là, tôi dùng trà để “hầu rượu” ông, vào câu chuyện. Nhưng dàn câu hỏi chuẩn bị của tôi (lý thuyết phỏng vấn dạy thế) bị vứt toẹt khi ông bảo, đang viết tiểu thuyết về… gái miền Tây.

 - Nhà ở đây xa, có nhiều thời gian cho công việc. Bên này được cái nó yên. Lưu Trọng Văn cách mấy trăm thước quẹo qua quẹo lại. Sáng, chiều tôi chạy xe đạp. Xe mắc tiền nhất của Nhật ba triệu rưỡi. Chạy nhẹ nhàng. Bữa nào đi đâu sớm thì nghỉ chạy.

Bối cảnh chính là miền Tây vì viết về gái miền Tây. Kể chuyện tôi ra Quảng Ngãi, một anh bạn hỏi, biết trồng cây gì tiền nhiều không? Trồng… cây điện. Dung Quất chưa có gì. Mở đường, có điện. Hỏi thêm câu nữa mới hay - có cột điện cho “người ta” đứng đường. Giàu để nuôi gái. Quảng Ngãi tết nộp tới một - hai tỷ nuôi gái Cần Thơ. Tết mỗi đứa mang về cả chục triệu. Tụi tui đóng thuế đó. Nghe thật xấu hổ.

Hau ruou nha van Nguyen Quang Sang

Lý do gì? Trần Mỹ Hà đi quay phim Đờn kìm về nói: “Con gái bỏ xứ đi. Các cô xếp hàng xuống tàu như “binh đoàn” vậy”. Xưa miền Tây ruộng đất đủ ăn, không ai giàu lắm nhưng chẳng ai đói. Quan trọng nhất là ít học. Trường ít, giao thông trắc trở. Không có trường nghề. Lui cui đi cấy đi gặt, làm cỏ mướn, chèo ghe bán khóm, ổi, nghề bình thường của gái miền Tây. Xà bông tắm, nước hoa, son, sơn móng tay ngày xưa làm gì có. Rồi sau do nhu cầu, xuất hiện chiếc ghe bành ky như siêu thị lưu động về đậu bến sông. Con gái nhìn thèm. Muốn có phải đi Sài Gòn. Nhưng vẫn có nhiều cô gái miền Tây đi lên bằng nghị lực của mình. Tôi viết truyện cô gái đi dọn dẹp nhà thuê, rồi nhiều mối, lập công ty nhỏ chuyên dọn nhà thuê. Làm ăn thành công, về quê xây nhà cho má…

Sở dĩ tôi đi nhiều, đi được gần hết miền Tây: Đồng Tháp, Tân Châu, Sa Đéc, Cao Lãnh, Mỹ Tho tất nhiên rồi. Long An đi qua. Đặc biệt Đồng Tháp Mười, Cà Mau… là do có Công ty  SIM tài trợ miền Tây 100 cây cầu, mời tôi làm khách. Chứ tiền đâu mà đi. Có cái may, thời chống Pháp, U Minh, Đồng Tháp tôi ở đó cả rồi…

Tôi hỏi, vậy Cánh đồng hoang còn giống xưa không? Đẹp không? Nó làm cho cả thế giới nghẹn ngào… Nguyễn quang Sáng như ngạc nhiên:

- Đẹp hoang sơ vẫn vậy. Đồng Tháp Mười mênh mông nước đâu có gì. Cánh đồng hoang tôi cũng mới về. Cánh đồng nước vẫn thế. Còn cây cỏ lác bưng đế, nay tàu chạy một hồi hết sạch.

- Nhưng đổi mới, xây dựng đô thị vẫn không ảnh hưởng gì sao? Nhiều thứ tiếc lắm chứ!

Hau ruou nha van Nguyen Quang Sang

Ông Sáng:

- Xây dựng đã bao nhiêu đâu mà tiếc. Đô thị hóa chưa được nhiều, chỉ có lối sống đô thị là tràn ngập thôi. Bi kịch chỗ đó. Trụ sở cơ quan rất to, đẹp. Sân bãi mênh mông. Xưa kháng chiến 9 năm, không có xuồng máy. Đêm  xuồng đi qua trai gái hò thật hay mênh mang sông nước. Nay máy chạy không ai hò nữa. Xưa hoạt động, đi mũi Cà Mau phải hai ngày xuồng. Con nước ròng là tấp vô, chờ nước lớn mới đi. Nay có bobo, tàu cao tốc chạy mấy tiếng, cũng ẹo ẹo lả lướt như Honda. Tiếc thì cứ tiếc, nhưng đời sống phải lên, hiện đại. Tuy nhiên, văn hóa quan trọng. Kẹt cái đó. Đời sống văn hóa - giáo dục chưa lên. Mừng thấy trẻ đi học nhiều. Nhưng mùa nước chết luôn Đồng Tháp Mười. Khó khăn đâm lười. Lớp Bốn, lớp Năm bỏ học. Làm cái gì?

Nguyễn quang Sáng kể, ông chèo xuồng giỏi lắm. Xưa chèo suốt đêm từ Cà Mau xuống Chắc Băng, nay tàu chạy mấy tiếng đồng hồ. Hôm rồi làm phim, ông chèo ào ào trên sông Hậu.

Đề cập đến kịch bản phim nhiều tập về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông cho biết: “Tôi đã từng làm một phim về Võ Văn Kiệt. Cách nay lâu lắm rồi. Lê Văn Duy đạo diễn. Làm xong, cất. Chính ông Kiệt không cho chiếu. Ông bảo người như ông Phạm văn Đồng, Lê Duẩn hồi đó còn chưa có phim, ông bắt cất. Theo tôi, sách về Võ Văn Kiệt nhiều tập dày đã xuất bản, nhưng chủ yếu tập hợp bài viết nhận định, nghiên cứu có tính chính trị chứ chưa có sách về con người cuộc đời cụ thể. Thật tiếc quá”.

Nguyễn Quang Sáng viết kịch bản phim về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt theo những gì ông nhớ, vì đã từng tiếp xúc, uống rượu, nghe chuyện với Thủ tướng nhiều. Nhớ trong đầu thôi. Không ghi chép gì. Tôi chọn thời điểm ông Kiệt từ Trung ương đi tàu không số về nhận chức bí thư Quân khu 9, lúc Hiệp định Paris được ký kết. Ở miền Tây lúc đó ông Thiệu xuống tuyên bố vẫn chiến tranh, không theo hiệp định. Mà mình lại có lệnh đình chiến. Mình đình, nó chiến, bị lấn chiếm. Ông Kiệt chủ trương đánh lại. Người ta nói ông đi xiếc trên dây, bên dưới không có bảo hiểm, té là té luôn. Vì làm sai chủ trương. Tôi viết lại câu thoại trả lời rất hay của ông: “Tôi làm theo mệnh lệnh của đất và dân. Mà đất và dân là thiêng liêng nhất. Nếu Trung ương kỷ luật, tôi đứng ra chịu”. Mấy anh em ở Khu ủy nói, nếu anh bị kỷ luật, chúng tôi sẽ chịu cùng với anh. Ông đánh xong, mở ra cái mới, các nơi học theo, ào ào tấn công đến năm 1975. 

Còn nhiều chi tiết hay lắm. Ông Kiệt xử mấy việc: hồi anh em lính miền Bắc vô cả sư đoàn, không còn tiền phát lương ăn. Ông lệnh phát lương cho lính miền Bắc, vì tin anh em miền Nam không có tiền cũng không bao giờ đói. Xưa không ai ăn con cá thòi lòi đầy mương rạch, mặt xấu như mặt quỷ, bộ đội người Nam bắt chặt đầu nấu canh chua, kho. Ông Kiệt ăn cơm, hỏi sao cá không có đầu? Nhà bếp giải thích: mặt nó xấu, chặt bỏ rồi anh Sáu, nhưng bụng nó tốt…(nay nó là đặc sản miền Tây rồi).

Hau ruou nha van Nguyen Quang Sang
 

Tôi thích cách ông cư xử với văn nghệ sĩ. Hồi đó giải tán văn công vì không còn tiền nuôi. Ông Kiệt hạ lệnh tập hợp anh em về. Ông bảo: “Một nhà chính trị diễn thuyết ai nghe. Mà văn công về, thiên hạ lội nước ào ào đi xem”. Tôi “cắt lát” tính cách ông Kiệt. Một câu nói hay nữa. Khi ông Nguyễn Bá Thanh hỏi “bí quyết thành công của người lãnh đạo là gì?”.  Ông Kiệt trả lời: “Là không sợ… mất ghế…”.

Ông Sáng bảo, khó nhất là tìm ai đóng ông Kiệt. Nghệ sĩ nổi tiếng không thiếu. Nhưng mà làm sao “diễn ra” được ông Kiệt?
*
Xong cuộc nói chuyện, tôi “hầu rượu” thế nào mà uống sạch ấm trà, trong khi chai rượu của ông Sáng vẫn còn. Quay ra nói chuyện sáng tác, tôi hỏi sao thiên hạ “ganh tỵ” bảo ông Sáng chơi không mà vẫn có sách ra? Ông cười:

- Tôi viết nhanh lắm. Cánh đồng hoang, ấp ủ nuôi chi tiết từ năm 1966 đến năm 1978 vì biết mình chưa làm được, chỉ miền Nam mới có đồng nước. Dạo  còn ở miền Bắc, người ta có xuồng, cô gái ngồi, phải móc kéo vào, giả quá không làm được, để về Nam làm, không vội vàng. Nhưng lúc viết, sau khi đưa bà xã đi đẻ ở Từ Dũ về chỉ ngoáy trong một tuần. Chiếc lược ngà năm 1966 mùa nước, ván kê trên ghe viết trong buổi sáng. Viết trên máy không hứng. Giấy trắng cái bút nó thật. Viết là chép ra cái đã nghĩ. Tôi vừa đi xe vừa nghĩ. Uống rượu cũng nghĩ. Viết trong đầu. Tôi ghét nhất cái vụ cứ nói văn học không có tác phẩm tầm cỡ thời đại. Thế nào là tầm cỡ? Cuộc sống chuyển biến quá nhanh. Mà viết, là hình ảnh và cảm xúc đọng lại lòng anh lâu mới có được. Anh chạy không kịp, không nhuần nhuyễn. Thứ hai nữa, có cái khổ chưa gỡ ra được: viết văn sống không nổi. Phải làm nhiều nghề khác để sống. Mà viết văn, không tập trung là thua.

Ông bảo còn nợ lớn, phải  viết về hai lần đi bộ từ Nam ra Bắc trong chiến tranh. Năm 1966 còn khỏe, đi vào Nam chiến đấu và năm 1971 bệnh đi ra. Bệnh cũng đi bộ. Biết bao chuyện, mà viết khác mọi người mới được.

Khi tiễn tôi ra cổng, ông Sáng chắc thấy bộ dạng lôi thôi (tôi ngồi  sau lưng anh xe ôm đến đón) liền  gọi giật lại:

- Khoan hãy đi. Đưa máy ảnh đây anh bấm cho một kiểu cảnh cô “đi cày”.

Thật tiếc là chiếc máy ảnh cũ ấy đã mất tự hồi nào sau nhiều phen dọn nhà. Khi có smartphone không ai cần nó nữa. Thế là mất luôn những tấm hình quý tự tay ông Sáng chụp cho. 

Nguyễn Thị Ngọc Hải